DỊCH: THINH LẶNG GIỮA LẶNG THINH

DỊCH: THINH LẶNG GIỮA LẶNG THINH

Phạm Minh Quân
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQGHN

Dịch, dường như, có phần lép vế và “chiếu dưới,” khi so sánh với viết, dù là sáng tác, nghiên cứu hay phê bình. Phần có phải vì tính nguyên bản và đại diện của một dịch giả là không cao? Tôi từng nghe một anh bạn nhà văn khuyên nên dành thời gian để viết thay vì dịch, bởi dịch cũng chỉ là diễn dịch lại trí thức của người khác, viết trình hiện bản thân mình ra (trước độc giả và công chúng) dễ hơn. Điều này xem chừng đúng, bởi trên bìa sách, tên dịch giả luôn có một vị trí khiêm nhu so với tên tác giả, và trong nhiều trường hợp, thậm chí lùi về trang bìa phụ. So với một tác giả viết, với chỉ vài tập thơ hay văn xuôi chưa biết hay dở tới đâu, cũng là một thứ xác nhận tên tuổi có đai đẳng ghê gớm lắm. Và, dĩ nhiên rồi, nổi tiếng cũng nhanh hơn.

Song, nếu cho rằng việc dịch là dã tràng xe cát hoài công hay chỉ sao chép lại người khác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của chính mình thì thật là thiển cận. Khác với dịch văn bản thuần túy, dịch sách, nhất là những công trình kinh điển thế giới, còn là dịch văn hóa. Chúng ta chấp nhận những giới hạn của ngôn ngữ khi chuyển dịch một tác phẩm khỏi nơi sinh ra của nó, chưa kể những lớp sàng lọc của khác biệt văn hóa. Dịch, đầu tiên chính là sự đọc sâu văn bản, đọc đến những khả thể kiệt cùng nhất, tự hiến sinh mình cho tác giả. Thử nói như những nhà ký hiệu học, thì một khi tác phẩm rời khỏi tác giả thì tác giả như đã chết rồi và quyền định đoạt nghĩa thuộc về người đọc (Roland Barthes), hay tác phẩm có tính chất mở và có nhiều cách đọc, hiểu và tạo nghĩa để lấp đầy khoảng trống khác nhau (Umberto Eco). Người dịch, cũng đồng thời là một tác giả phái sinh và chủ thể diễn giải độc lập với tác giả chính văn, giải-mã hóa văn bản cùng những nghĩa không hiển nhiên của nó. Một bản dịch xuất sắc, không chỉ bồi đắp thêm cho tác giả và tác phẩm gốc, còn có một ý nghĩa xuyên văn hóa lớn hơn rất nhiều.

Dịch là một công việc đầy ải, tựa Sisyphus phải lăn tảng đá vĩnh cửu lên đồi hay Tinh Vệ lấp biển. Khổ hạnh còn nhiều hơn hơn đối với những dịch giả chọn lối đi khó – dịch những trước tác nghiên cứu kinh điển của thế giới, đặc biệt là sách triết học. Sách khó dịch là một, lại kén người đọc và in số lượng ít là hai, nên nhuận dịch so với mặt bằng chung các dòng sách phổ thông không thể gọi là cao, nếu đong đếm dựa trên con chữ. Dù biết mọi nẻo ngặt nghèo trầm kha nhưng vẫn dấn thân, có thể bởi vì một sứ mệnh hay nghĩa cử nào đó, nói theo lối to tát. Dịch cho mình vẫn là yếu tố tiên quyết, tuy nhiên vẫn có những người có thể đọc hiểu mà chẳng cần dịch cho ai xem, bởi thế, dịch ở đây là làm một điều gì đó cho cộng đồng, đem lại những tinh hoa mà thế giới đã đi trước chúng ta rất nhiều năm, kiến tạo một cộng đồng đọc chuyên sâu, vốn là điều cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của một nền tri thức – học thuật.

Tôi muốn nhắc đến/kể về những người đi trước. Họ là những người mở đường, cùng dịch sách văn hóa và có lương duyên gắn bó với Tủ sách Văn hóa học, để lại cho tôi cùng nhiều bạn đọc tinh tế thủy chung khác không chỉ là khối di sản vô giá về tri thức, mà còn là tấm gương miệt mài và lao động trong thinh lặng bất chấp những phản hồi lặng thinh từ số đông.

Đoàn Văn Chúc ngôi sao vô thanh

Trên bầu trời đêm, luôn có những vì sao rực sáng tỏa rạng, nhưng có một điều ít ai biết rằng, không phải lúc nào những vì sao sáng nhất cũng là vì sao có kích cỡ thực tế lớn nhất. Trong học thuật cũng vậy, có những sự đóng góp tuy thầm lặng, khuất lấp và vô thanh, song để lại giá trị bao la cao vợi.

Học giả Đoàn Văn Chúc (1926 – 1996), tên thật là Nguyễn Tăng Khiêm, mãi gần đây mới được biết đến như là một trong những người tiên phong, đặt nền móng cho văn hóa học ở Việt Nam, đặc biệt khi chuyên ngành này đang còn non trẻ. Tuy nhiên, lúc sinh thời, người ta biết đến ông không nhiều, còn bạn bè biết đến ông nhiều hơn qua biệt hiệu Chúc “bờ sông” (bởi nhà ở ngoài đê bờ nam sông Hồng). Một trí thức sinh ra và trưởng thành trong môi trường giáo dục thuộc địa, điều lớn nhất mang lại đối với Đoàn Văn Chúc là vốn tiếng Pháp vững vàng. Rồi sau này, kinh qua nhiều vị trí khác ở Bộ Văn hóa và công tác văn hóa quần chúng, ông lại tìm thấy một nơi cư ngụ lý tưởng ở Trường Cán bộ văn hóa (sau là Trường Lý luận nghiệp vụ văn hóa và rồi trở thành Đại học Văn hóa Hà Nội). Dường như, ở một nơi tưởng như chú trọng cờ đèn kèn trống, lại là đất để ông dụng võ lý thuyết, và đương nhiên, một cách âm thầm. Ông luôn ở thế độc lập tách biệt đám đông, hay có khi ngoài lề.[1]

Tại đây, ông đã chấp bút viết ba tác phẩm nghiên cứu chi tiết về văn hóa học nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu giảng dạy, gồm Những bài giảng về Văn hóa (Nxb Văn hóa và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 1994, Văn hóa học (Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 1997), Xã hội học Văn hóa (Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 1998). Đặc biệt, Đoàn Văn Chúc còn được biết đến với những công trình dịch thuật như Tìm về cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức (Trần Đức Thảo, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1996), Vật tổ và cấm kỵ (S. Freud, Trung tâm Văn hóa Dân tộc, 1998; Nxb Thế giới và Song Thủy Bookstore tái bản năm 2020), Những tiếng nói đã mất (J. Duvignaud, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật và Nxb Thế giới, 2011), Những cấu trúc xã hội học (G, Bouthuol, Nxb Thế giới, 2011), Những mảnh ghép văn hóa (Nhiều tác giả, Nxb Hội Nhà văn, 2016), gồm các tiểu luận của các học giả như René Alleau, Erich Fromm, Claude Lévi-Strauss, Jean Baudrillard… được ông chọn lọc, dịch từ tiếng Pháp và hệ thống lại, và Bàn về nguồn gốc tôn giáo (M. Eliade, dịch chung với Đỗ Lai Thúy, Nxb Khoa học xã hội, 2019). Đấy là chưa kể đến còn rất nhiều bản thảo của ông còn nằm trong ngăn kéo, chưa gặp cơ hội được xuất bản, như Triết học các hình thái biểu tượng của E. Cassier, Tuyển tập những bài luận kinh điển về văn hóa học (Tylor, Morgan, Lévi-Strauss, G. Bouthoul, Aron…), Những cược đố của tính hợp lý – sự thách thức của khoa học và kỹ thuật đối với các văn hóa của Jean Ladrière, hay Nhập môn xã hội học của Jean Duvignaud. Ngoài nghiên cứu, dịch thuật, ông cũng là một nhà thơ “độc lạ” với thơ thị giác.

Cho đến nay, Việt Nam vẫn còn bị đánh giá nằm trong “vùng trũng” về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung, và lĩnh vực nghiên cứu văn hóa nói riêng. Đơn thuần, là thực trạng “đóng cửa bảo nhau” về nghiên cứu học thuật, cô lập trong bốn bức tường và dè dặt, choáng ngợp khi bước ra ngoài hội nhập với thế giới. Tuy về bản chất, hệ thống cơ sở lý luận và phương pháp luận hiện đại của chúng ta được kế thừa di sản từ nền học thuật phương Tây, đặc biệt là Liên Xô, nhưng sự tiếp thu còn dập khuôn và thiếu sự cải biến, hay sáng tạo phát triển một hệ thống mới, phù hợp với thực tiễn nghiên cứu. Một lý do cốt yếu nữa, đó là năng lực về ngoại ngữ còn hạn chế, khiến cho việc tiếp cận những lý thuyết của các học giả nước ngoài khó khăn và không đầy đủ, dẫn đến việc nghiên cứu hiện nay chưa có tổng quan tình hình nghiên cứu, chỉ xoay quanh việc mô tả, thống kê thuần túy, thiếu sự khái quát hóa và hệ thống. Bởi vậy, để phát triển nội lực nghiên cứu trong nước, cũng như mở rộng cánh cửa bước ra ngoài nền học thuật quốc tế, càng đòi hỏi cần phải có những công trình tác phẩm kinh điển nước ngoài được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Những tác phẩm dịch thuật này chính là chìa khóa đầu tiên để tiệm cận với tri thức nhân loại và nâng tầm hội nhập, thực hiện sứ mệnh của mình như một chiếc cầu nối xóa tan mọi rào cản ngôn ngữ và ranh giới của khoa học.

Vào thời điểm khi Đoàn Văn Chúc thực hiện chuyển ngữ những tác phẩm kinh điển, vốn chưa có những điều kiện thuận lợi như ngày nay, đơn cử như một hệ thống từ điển tra cứu thuật ngữ chuyên môn, mạng internet phục vụ khảo cứu trực tuyến, thậm chí để tiếp xúc với tác phẩm gốc đã là rất khó khăn. Nhưng dịch, nhất lại là dịch khoa học, là điều không đơn giản. Về quan điểm dịch thuật, việc nhận thức và phân biệt rõ các khái niệm, thuật ngữ khoa học đóng một vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội được tri thức nước ngoài, tránh những thiếu sót hiểu lầm và đưa ra được cách diễn giải sâu, phù hợp với bạn đọc. Ở ta, đôi khi việc sáng tạo một thuật ngữ mới, hay dần dần kiện toàn một quy ước thuật ngữ chung, đều khó.

Và đối với những người dịch khoa học, đều phải có sự đánh đổi, thậm chí là hy sinh. Họ phải hy sinh thời gian, công sức và trí tuệ. Bởi nếu coi là một sinh kế, thì thù lao từ việc dịch cũng không phải là bao, thậm chí sự vất vả còn tỷ lệ nghịch với nhuận bút nếu so với dịch các sách thường thức, sách phổ thông được các nhà xuất bản săn đón nồng nhiệt. Còn về lưu danh, nhiều người đã ưa chọn con đường sáng tác để nhanh nổi tiếng hơn, qua tác phẩm của chính mình.

Với Đoàn Văn Chúc, dịch là một cách để ông đọc sâu, học và phục vụ cho viết, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy. Những tri thức kinh điển, được thẩm thấu qua ông, đến với sinh viên. Ông còn là một người hết sức cẩn trọng trong việc diễn đạt ngôn từ và sáng tạo từ mới. Đọc bản dịch của ông, ánh lên những cách dụng ngữ vừa độc đáo lại vừa uyển chuyển có văn, như nghi điển, thượng tổn, dư sinh, canh cải, đồ hình, trừu xuất… đôi khi lại là giải pháp hợp lý cho những thuật ngữ khó, ví dụ như linh hiển (hierophanies), sở nghiệm (vécu) hay biểu lộ (phanique)…

Ông cùng với Đỗ Lai Thúy (sẽ nói kỹ hơn ở phần sau bài viết) đã cùng nhau chủ trương, tổ chức dịch và giới thiệu Tủ sách Văn hóa học, đến nay đã ra gần 20 cuốn. Trong đó, ông là một cộng sự đắc lực đồng hành giai đoạn đầu, mang đến những công trình tiêu biểu của khối học thuật Pháp ngữ. Phải nói rằng, nhờ Tủ sách Văn hóa học nói chung, và Đoàn Văn Chúc nói riêng, độc giả Việt mới được biết đến những học giả tiếng Pháp như Bouthoul, Eliade, Duvignaud, Baudrillard,… và cả những người chúng ta tưởng biết rất rõ với tư cách “người nước ta” như Trần Đức Thảo, thì phải qua bản dịch của Đoàn Văn Chúc mới gần như được tiếp xúc trực tiếp với trước tác.

Do đó, những công trình của ông, cả viết và dịch, đối với lớp hậu bối nghiên cứu văn hóa, trở thành một kho tàng quý báu, chứa đựng hệ thống thuật ngữ quý báu phục vụ công việc tra cứu tham khảo, là kim chỉ nam cho quá trình đọc và dịch những tác phẩm kinh điển nước ngoài. Chính bởi lý do này, những công trình của nhà nghiên cứu, dịch giả Đoàn Văn Chúc càng trở nên có giá trị, đặc biệt đối với những thế hệ hậu thế quan tâm, trân quý tri thức và có lòng đam mê nghiên cứu văn hóa.

Nguyễn Kiến Giang đi tìm lại tên

Người tiếp theo tôi muốn nhắc đến là học giả Nguyễn Kiến Giang (1931 – 2013). Tên thật của ông là Nguyễn Thanh Huyên, sinh ra tại một làng quê Quảng Bình bên con sông Kiến Giang. Tầm thước “sừng sững khổng lồ” của ông được thể hiện qua khối lượng đồ sộ công trình viết, dịch, biên soạn thâm sâu về văn hóa, thể hiện một tầm nhìn đi trước thời đại, một tư duy phức hợp, độc lập và dám cách tân tư tưởng, và quan trọng hơn hết, một bản lĩnh kẻ sỹ, một nhân cách trí thức lớn.

Bởi tình thế bị gạt ra lề trong nhiều thập kỷ (hậu “đi tù ta”), ông có nhiều bút hiệu như Kiến Giang, Lê Diên, Lương Dân, Lê Minh Tuệ… Có những công trình viết hay biên soạn từ điển ông phải ẩn danh đứng sau Nguyễn Khắc Viện. Chỉ tính riêng mảng sách dịch, số lượng tác phẩm dịch kinh điển của ông cỡ đến mấy chục, đã có thể làm nên toàn bộ sự nghiệp của nhiều dịch giả, tuy nhiên đối với ông chỉ “vừa là kiếm ẳn [ăn], vừa là phục vu [vụ]” (theo Đỗ Lai Thúy). Riêng chỉ trong Tủ sách Văn hóa học, cùng với Cành vàng (James Frazer) do Ngô Bình Lâm dịch, thì Văn hóa nguyên thủy (E. Tylor) của Huyền Giang, với dung lượng hàng ngàn trang là những dịch phẩm đồ sộ mang tầm vóc “đời người.” Một số sách dịch của ông đứng tên Huyền Giang như Chủng tộc và lịch sử (Claude Lévi-Strauss), Sự phát triển siêu cá nhân (Roberto Assagioli), Con người không thể đoán trước được (André Bourguignon), Phê phán tính hiện đại (Alain Touraine), Thiêng và phàm (Mircea Eliade),… một số ông khác đứng tên Lê Diên như Phật giáo – Ấn Độ giáo – Đạo giáo – Thiền: Tư tưởng minh triết phương Đông, Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc (Henri Maspero)…

Mặc dù có coi dịch là sinh kế, điều là tất dĩ đối với thân phận bấy giờ, nhưng rõ ràng, những công trình dịch của Nguyễn Kiến Giang trên hết là phụng sự cho hành trình nghiên cứu số phận văn hóa Việt của ông. Ông chính là minh chứng cho việc dịch nhiều, nhưng phải dịch một cách có hệ thống, tạo ra hệ thống để cộng hưởng giúp ích cho hướng nghiên cứu của mình. Tất cả những kiến thức tri nhận được thông qua quá trình dịch đều được ông tích hợp vào trong các bài viết về nhiều chiều kích vấn đề khác nhau như bức tranh thế giới, văn hóa tộc người và văn hóa Việt, đời sống tâm linh và tôn giáo thường hằng. Khi ráp nối lại với nhau, bản thân những lựa chọn dịch cũng thể hiện một tư tưởng nhất quán chung của người dịch, tức trả lời câu hỏi dịch để làm gì? Những người đi sau và kế thừa di sản của ông, tỏa ra nhiều nhánh chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau, nhưng luôn tìm thấy trong các đầu sách ông dịch một liên kết liên ngành.

Dù ở một vị thế khuất lấp phía sau những diễn ngôn chính thống, nhưng sinh thời Nguyễn Kiến Giang vẫn có một tiếng nói nổi bật trong giới trí thức cho tới tận ngày nay. Tác phẩm Bàn về văn hóa, dưới tên Huyền Giang, tập hợp những tiểu luận của ông được viết từ năm 1991 đến 2000 đã được in vào năm 2017, hàm chứa những quan điểm và dự báo vẫn đầy tính thời sự đương đại. Tuy vậy, còn số lượng rất lớn dịch phẩm của ông, kể cả những công trình đã in lẫn chưa in, xứng đáng được giới thiệu trở lại tới đông đảo bạn đọc đại chúng. Biết đâu đấy, ông sẽ được khôi phục lại đúng nhân thân – tư cách học giả và dịch giả của mình trên những ấn phẩm xuất bản.

Đỗ Lai Thúy và Tủ sách văn hóa học

Có lẽ người ta biết đến học giả Đỗ Lai Thúy nhiều nhất với tư cách là một nhà phê bình văn học – văn hóa với nhiều chuyện luận nổi tiếng có giá trị học thuật cao và mang sự duyên dáng đến từ nghệ thuật của ngòi bút. Nhưng dường như ít ai biết đến một cống hiến âm thầm khác của ông, đó là chủ trương Tủ sách Văn hóa học, bao gồm gần 20 tác phẩm văn hóa học, dân tộc học, nhân học văn hóa và xã hội học kinh điển thế giới được tổ chức dịch, hiệu đính và giới thiệu tới bạn đọc Việt Nam.

Tủ sách Văn hóa học, ban đầu, xuất phát từ một ý tưởng chợt đến của Đỗ Lai Thúy và học giả Đoàn Văn Chúc: “Cách đây ba mươi năm, một hôm tôi đến nhà Đoàn Văn Chúc chơi. Trong câu chuyện tôi có than phiền với ông, về tình trạng trong các ngành văn hóa không có tổ sư, cũng như không có kinh điển, thật không bằng nàng Kiều ở lầu Ngưng Bích. Ông Chúc chợt đưa ra ý kiến: ‘Hay là mình với Thúy chọn một số sách kinh điển nhờ người dịch và xuất bản đi.’ ‘Nhưng lấy tiền đâu mà trả dịch giả?’ Ông cho biết: ‘Mình có cô bạn ở Sài Gòn đang muốn thuê mấy trăm mét đất nhà mình để xây khách sạn.’ Thế là tôi với ông lên ngay một danh sách những tác phẩm cần dịch.” – ĐLT.

Sự tất yếu và cần thiết của Tủ sách Văn hóa học, trước hết, đến từ hai điểm. Thứ nhất, có một thời chủ nghĩa duy vật lịch sử – duy vật biện chứng được coi là “chìa khóa vạn năng” mở khóa tất cả các ngành khoa học xã hội. Lý thuyết phương Tây bị coi là thứ gì đó nằm ngoài chủ lưu, thậm chí người ta còn sợ nó sẽ phá vỡ tính đúng đắn phổ quát của quan điểm Mác-xít. Thế nên mới có những câu chuyện phát hiện ra châu Mỹ lần thứ hai, lần thứ ba, trong khi trên thế giới họ đã tường tận hết rồi. Thứ hai, bởi một lý do chủ quan cá nhân, do thời buổi đó cũng chưa phổ cập tri thức và có một nền tảng công nghệ thông tin như ngày nay, người ta ăn thua nhau ở tư liệu. Bởi vậy, những ai có khả năng ngoại ngữ, đọc được sách nước ngoài, thường hay “giấu sách,” “thủ sách” của văn khố thư viện làm của riêng, để chiếm cho mình thế thượng phong khi tranh biện với người khác. Thế nên, khởi sự và tổ chức Tủ sách Văn hóa học, một trong những tủ sách đầu tiên chủ trương dịch thuật các tác phẩm kinh điển nước ngoài về nghiên cứu văn hóa, là một hành xử cống hiến, của Đỗ Lai Thúy, đối với giới trí thức học thuật Việt Nam.

Cũng giống hành trình phát triển từ dân tộc ký đến dân tộc học, rồi đến nhân học văn hóa, có thể chia Tủ sách Văn hóa học thành bốn làn sóng. Làn sóng thứ nhất, là giới thiệu các nhà nhân học ghế bành (hay nhân học bàn giấy), với tên tuổi lớn là hai nhà nhân học văn hóa – xã hội Anh James Frazer,[2] và Edward Burnett Tylor.[3] Phương pháp của Tylor và Frazer phần lớn nghiên cứu so sánh tôn giáo và thần thoại, dựa trên các dữ liệu thứ cấp là các tư liệu văn học dân gian, ghi chép du khảo hay nhật ký của những nhà du lịch, những kẻ phiêu lưu, những nhà truyền đạo và các tác phẩm dân tộc chí đương thời. Thậm chí các ông còn chưa bao giờ điền dã thực địa tại địa phương hay tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu. Điểm chung của họ với các nhà nhân học lúc bấy giờ là tìm cách áp dụng triệt để lý thuyết tiến hóa luận của Charles Darwin trong tự nhiên và Lewis H. Morgan trong xã hội, vốn là xu thế chung của toàn bộ khoa học thế kỷ XIX, tới mọi khía cạnh nghiên cứu về con người. Mặt khác, họ coi nền văn hóa Tây Âu nói riêng hay của người da trắng nói chung là đỉnh cao trong thang bậc văn minh, còn các bộ tộc, bộ lạc, những nhóm người thiểu số ở Bắc Mỹ, châu Phi, và châu Á nằm ở những giai đoạn thấp hơn của sự phát triển. Các tác phẩm của Frazer hay Tylor, tuy trải qua thời gian không còn có giá trị chuẩn tắc như khi vừa mới xuất hiện, nhưng giá trị tư liệu tham khảo của chúng với tư cách là một bách khoa thư về văn hóa nguyên thủy vẫn còn trường tồn cho tới ngày nay. Dịch giả Ngô Bình Lâm là một người cộng tác vô cùng tích cực và hiệu quả trong giai đoạn này, vốn là một người dịch văn học, nên những cuốn sách được ông chuyển ngữ mang lại một văn phong uyển chuyển hấp dẫn bạn đọc.

Đan xen với làn sóng thứ nhất là làn sóng thứ hai với các tác phẩm chuyển ngữ từ tiếng Nga. Bản thân Đỗ Lai Thúy xuất phát điểm là một người học tiếng Nga, và được đi Nga, nên những lý thuyết đầu tiên ông được tiếp xúc là tiếng Nga. Một yếu tố khách quan nữa, là nhiều khi để biết được tri thức từ khối Âu – Mỹ hay Pháp, phải đi qua giáo trình tiếng Nga, do sự đóng cửa về mặt tư tưởng của thời trước. Cuốn sách dịch đầu tiên của Tủ sách Văn hóa học, và, với tư cách là một giáo trình mang tính hệ thống cao, là Văn hóa học, những xu hướng nhân học văn hóa do A. A. Belik chủ biên.[4] Cùng với cuốn Văn hóa học: Những bài giảng của Radughin, đây là một học liệu có giá trị giúp bạn đọc có thể nắm bắt được những dòng chủ lưu chính trong nghiên cứu văn hóa trên thế giới, từ đó truy nguyên đến những tác giả và tác phẩm cần thiết phục vụ hướng nghiên cứu mà mình quan tâm. Một công trình đồ sộ khác có ảnh hưởng không nhỏ đến nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian của Việt Nam, Tuyển tập V.Propp hai tập gồm bốn chuyên luận Hình thái học truyện cổ tích, Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, Những lễ hội nông nghiệp Nga, Folklore và thực tại cũng đã được tổ chức dịch.[5]

Làn sóng thứ ba, những tác phẩm dịch đến từ khối học giả Pháp, cập bờ nhờ đóng góp rất lớn của dịch giả – nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc. Xuất phát từ nhu cầu giảng dạy và cung cấp khảo liệu cho sinh viên, ông đã cần mẫn chọn lọc, dịch từ tiếng Pháp, và hệ thống lại trước tác của các học giả ưu tú của Pháp như Jean Duvignaud,[6] Gaston Bouthoul,[7] René Alleau, Claude Lévi-Strauss, Jean Baudrillard, Jean Cazeneuve[8]… Bên cạnh đó, dịch giả Ngô Bình Lâm đóng góp hai công trình dân tộc học Pháp của thế kỷ XX có ý nghĩa lớn không chỉ ở thế giới, mà còn ở Việt Nam của Lucian Lévy-Bruhl[9] và Marcel Mauss.[10] Xét cho cùng, dân tộc học Pháp có sự cận biên về quan điểm nghiên cứu và rất gần gũi với dân tộc học Việt Nam, bởi lẽ, những nhà dân tộc học Pháp có ảnh hưởng rất lớn tới những người đặt nền móng cho ngành dân tộc học ở nước ta, với Nguyễn Văn Huyên và Từ Chi là một minh chứng điển hình.

Gần đây hơn, Tủ sách Văn hóa học lại có sự chuyển dịch về phương hướng hải lưu. Bắc Mỹ là xứ sở của những người khổng lồ trong nhân học, cũng là nơi góp phần bước ngoặt nâng bước dân tộc học trở thành nhân học, và cho đến tận ngày nay vẫn là một trong những cái nôi đào tạo nhân học trên thế giới. Thế nhưng, gương mặt và tên tuổi các nhà nhân học Mỹ tại Việt Nam lại tương đối ít được biết đến, do khối lượng công trình được dịch chưa nhiều. Trước đây, Tủ sách Văn hóa học mới chỉ giới thiệu một công trình của Robert Lowie.[11] Vì vậy, Tủ sách Văn hóa học đã tiến hành làn sóng thứ tư, giới thiệu các tác giả và tác phẩm nhân học Mỹ tiêu biểu tới đông đảo bạn đọc Việt Nam. Đầu tiên phải nhắc đến “ông tổ của nhân học Mỹ,” Franz Boas, với chuyên luận Tư duy nguyên thủy (The Mind of the Primitive Man, 1911).[12] Cùng với một nhà nhân học nổi tiếng người Anh khác, Bronislaw Malinowski (với công trình Tình dục và ức chế ở xã hội man dã/Sex and Repression in Savage Society, 1927),[13] đại diện cho những nhà nhân học thực địa, đề ra phương pháp quan sát tham dự, và nó nhanh chóng trở thành phương pháp cơ bản của các nhà nghiên cứu nhân học cho tới tận ngày nay. Franz Boas còn là một nhà cách mạng trong nhân học, khi lập thuyết tương đối luận văn hóa chống lại quan niệm cao – thấp của tiến hóa luận văn hóa và định kiến phân biệt chủng tộc trong văn hóa. Một trong những học trò ưu tú của ông, Ruth Benedict, vốn được bạn đọc Việt Nam biết đến qua chuyên luận Hoa cúc và gươm (The Chrysanthemum and the Sword, 1946), tái ngộ bằng một chuyên luận mang tính hệ thống về các kiểu loại văn hóa điển hình.[14] Cùng với đó, là tác phẩm nhân học thuộc hàng bestseller và được đọc nhiều nhất thế kỷ trước, đồng thời còn là tác phẩm, có thể nói là đầu tiên, nghiên cứu về nữ giới, mang tên Tuổi trưởng thành ở Samoa (Coming of Age in Samoa, 1928) của nữ học giả tiên phong Margaret Mead.[15]

Tủ sách Văn hóa học, ra đời trước Tủ sách Tinh hoa trứ danh của Nxb Tri thức 7 năm và nhiều tủ sách thời thượng hiện giờ ngót nghét gần 20 năm, không hề có một quỹ tài trợ ổn định và không có chính danh. Nhưng, Tủ sách đã có đóng góp không nhỏ cho giới khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam với những tác phẩm “gối đầu giường” dành cho những nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên chuyên ngành dân tộc học và văn hóa học. Đằng sau Tủ sách, là miệt mài tâm huyết thầm lặng của một học giả uyên bác nay đã 77 tuổi. Ông vẫn tuyển chọn tác phẩm, đọc, hiệu đính và viết lời giới thiệu cho từng cuốn sách. Và sẽ còn rất nhiều dịch phẩm khác đang chờ đợi phía trước.

***

Đường là để đi, nhưng nhiều khi, chúng ta quên rằng đi tất thành đường. Dịch là một con đường tôi chọn. Con đường này, tuy nhất phiến và tĩnh mịch, nhưng nhìn những bóng hình phía trước, tôi không một mình.

Phụ lục: Tủ sách Văn hóa học

1. Belik (1999), Văn hóa học – những xu hướng nhân học văn hóa (Đỗ Lai Thúy, Hoàng Vinh, Huyền Giang dịch), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

2. E.B. Tylor (2001), Văn hóa nguyên thủy (Huyền Giang dịch), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

3. J. Frazer (2001), Huyền thoại về nguồn gốc của lửa (Ngô Bình Lâm dịch), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

4. Robert Lowie (2001, 2008), Luận về xã hội học nguyên thủy (Vũ Xuân Ba và Ngô Bình Lâm dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001; tái bản đổi tên là Không gian văn hóa nguyên thủy (Nhìn theo lý thuyết chức năng) (Thêm lời giới thiệu của Đỗ Lai Thúy), Nxb Tri thức, 2008, Hà Nội.

5. V. Propp (2003, 2005), Tuyển tập V.Propp [hai tập gồm: Hình thái học truyền cổ tích, Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, Những lễ hội nông nghiệp Nga, Folklore và thực tại] (Phan Ngọc, Chu Xuân Diên, Đỗ Lai Thúy, Trần Phương Phương, Nguyễn Kim Loan,… dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

6. J. Frazer (2007), Cành vàng (Ngô Bình Lâm dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

7. L. Lévy – Bruhl (2008), Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng của người nguyên thủy (Ngô Bình Lâm dịch), Trung tâm Sách Thủy và Nxb Thế giới, Hà Nội.

8. M. Mauss (2011), Khảo về quà tặng (Ngô Bình Lâm và Phùng Kiên dịch), Trung tâm Sách Thủy và Nxb Thế giới, Hà Nội.

9. J. Duvignaud (2011), Những tiếng nói đã mất (Đoàn Văn Chúc dịch), Tạp chí VHNT và Nxb Thế giới, Hà Nội.

10. G. Bouthoul (2011), Những cấu trúc xã hội học (Đoàn Văn Chúc dịch), Trung tâm Sách Thủy và Nxb Thế giới, Hà Nội.

11. Nhiều tác giả (2016), Những mảnh ghép văn hóa (Đoàn Văn Chúc dịch), Trung tâm Sách Thủy và Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

12. Ruth Benedict (2017), Các mô thức văn hóa (Phạm Minh Quân dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội.

13. Mircea Eliade (2019), Bàn về nguồn gốc các tôn giáo (Đoàn Văn Chúc và Đỗ Lai Thúy dịch, Phạm Minh Quân giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

13. Bronislaw Malinowski (2019), Tình dục và ức chế ở xã hội man dã (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

14. S. Freud (2020), Vật tổ và cấm kỵ (Đoàn Văn Chúc dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

15. Margaret Mead (2021), Tuổi trưởng thành ở Samoa (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

16. Franz Boas (2021), Tư duy nguyên thủy (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

17. Heinrich Wölfflin (2022), Những nguyên lý của lịch sử nghệ thuật (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

18. Johan Huizinga (2022), Người chơi (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

19. Oswald Spengler (dự kiến 2025), Hoàng hôn phương Tây (hai quyển, Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu).

20. John J. Honigmann (dự kiến 2025), Văn hóa và nhân cách (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu).


[1] Nhà phê bình Mai Anh Tuấn nhận định Đoàn Văn Chúc có một vị thế “ngoài lề.” Nhận định này có lẽ đúng khi nhắc đến ông, đặc biệt khi đặt ông trong tương quan với những người bạn như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Văn Cao, Bùi Xuân Phái.

[2] Tủ sách Văn hóa học đã giới thiệu hai công trình của J. Frazer gồm: Huyền thoại về nguồn gốc của lửa (Ngô Bình Lâm dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2001; tái bản, Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, 2017, Hà Nội;  Cành vàng (Ngô Bình Lâm dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Văn hóa – Thông tin, 2007; tái bản 2019, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[3] E.B. Tylor, Văn hóa nguyên thủy (Huyền Giang dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2001; tái bản 2019, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[4] A. A. Belik, Văn hóa học – những xu hướng nhân học văn hóa (Đỗ Lai Thúy, Hoàng Vinh, Huyền Giang dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Nxb Văn hóa Dân tộc, 1999.

[5] V. Propp, Tuyển tập V.Propp (Phan Ngọc, Chu Xuân Diên, Đỗ Lai Thúy, Trần Phương Phương, Nguyễn Kim Loan,… dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Nxb Văn hóa – Thông tin, 2003, 2005.

[6] J. Duvignaud, Những tiếng nói đã mất (Đoàn Văn Chúc dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, 2011.

[7] G. Bouthoul (2011), Những cấu trúc xã hội học (Đoàn Văn Chúc dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội.

[8] René Alleau, Claude Lévi-Strauss, Jean Baudrillard, Jean Cazeneuve, Những mảnh ghép văn hóa (Đoàn Văn Chúc dịch, Mai Anh Tuấn giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Hội nhà văn, 2016.

[9] L. Lévy – Bruhl, Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng của người nguyên thủy (Ngô Bình Lâm dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, 2008; tái bản 2019, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

[10] M. Mauss, Khảo về quà tặng (Ngô Bình Lâm và Phùng Kiên dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, 2011.

[11] R. Lowie, Luận về xã hội học nguyên thủy (Vũ Xuân Ba và Ngô Bình Lâm dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001; tái bản đổi tên là Không gian văn hóa nguyên thủy (Nhìn theo lý thuyết chức năng) (Thêm lời giới thiệu của Đỗ Lai Thúy), Nxb Tri thức, 2008, Hà Nội.

[12] Franz Boas, Tư duy nguyên thủy (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội, 2021.

[13] Bronislaw Malinowski, Tình dục và ức chế ở xã hội man dã (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội, 2019.

[14] Ruth Benedict, Các mô thức văn hóa (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Nxb Tri thức, 2018.

[15] Margaret Mead, Tuổi trưởng thành ở Samoa (Phạm Minh Quân dịch, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), Song Thuy Bookstore và Nxb Thế giới, Hà Nội, 2021.

Comments

Leave a Reply